Trang chủ Tin tức - sự kiện SGTVT

Phát triển hạ tầng giao thông góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng – an ninh của tỉnh Lai Châu (2004 – 2019), Kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra cho giai đoạn tiếp theo
(Ngày đăng :15/08/2019 12:00:00 SA)

 

 

 

             Ngày 15/8/2019, Tỉnh ủy Lai Châu đã phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Đảng bộ tỉnh Lai Châu 70 năm xây dựng, trưởng thành – Những vấn đề thực tiễn và lý luận”. Tham dự Hội thảo này có các đồng chí lãnh đạo Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp Chí Cộng sản, Tạp chí Lý luận Chính trị; các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; các nhà khoa học; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, huyện, thành phố trong tỉnh. Tại Hội thảo đã có nhiều ý kiến tham gia trực tiếp của các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh và 29 bài tham luận, trong đó có tham luận của đồng chí Giám đốc Sở Giao thông vận tải tỉnh. 

 

 

Toàn cảnh hội thảo

 

(Dưới đây là Bài phát biểu tham luận của đồng chí Phạm Ngọc Phương - Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh - Giám đốc Sở Giao thông vận tải tại Hội thảo khoa học “Đảng bộ tỉnh Lai Châu 70 năm xây dựng và trưởng thành – Những vấn đề thực tiễn và lý luận”

 

           Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng – an ninh của tỉnh thì phát triển hạ tầng giao thông cần phải được chú trọng, ưu tiên hàng đầu, giao thông phải đi trước một bước để tạo tiền đề cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển. Năm 2004, khi mới chia tách thành lập tỉnh, việc phát triển hạ tầng giao thông còn nhiều gặp rất nhiều khó khăn, do Lai Châu là một tỉnh miền núi, biên giới, có diện tích rộng, địa hình chia cắt phức tạp, hiểm trở, dân cư phân bố không đều, xa các trung tâm kinh tế-chính trị của đất nước, có xuất phát điểm thấp, nền kinh tế kém phát triển, nguồn lực để đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông còn rất hạn hẹp, ngoài việc đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước thì việc kêu gọi các nguồn lực khác như BOT, BT là rất khó khăn, trong khi xuất đầu tư cho công trình lớn đã tác động rất mạnh đến việc phát triển hạ tầng giao thông.

          Khi mới chia tách, cơ sở hạ tầng giao thông chưa phát triển, hệ thống giao thông chưa đa dạng và đồng bộ, các tuyến đường đều mang tính chất độc đạo, khả năng kết nối thấp, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, nhất là mùa mưa lũ. Trên địa bàn tỉnh có 2.937Km đường bộ, trong đó: quốc lộ có 05 tuyến với chiều dài 319Km (QL:4D;12;32;100;279); đường tỉnh có 04 tuyến với chiều dài 216Km (ĐT:127;128;129;132); đường đô thị chiều dài 31 Km; đường GTNT có chiều dài 2.371Km; số xã có đường ô tố đến trung tâm 79/98 xã, trong đó có 61 xã có đường ô tô đi lại thuận lợi các mùa (chiếm 62%); 592/1.111 thôn, bản có đường xe máy đi lại thuận lợi, chiếm 53%. Nhìn chung hạ tầng giao thông của tỉnh còn thiếu cả về số lượng, kém về chất lượng. Các tuyến quốc lộ chủ yếu là đường cấp VI, cấp V miền núi, mặt đường láng nhựa và cấp phối, có bề rộng mặt đường hẹp (3,5m), một số yếu tố kỹ thuật phải châm trước. Đường tỉnh chủ yếu là đường cấp phối, công trình thoát nước và công trình vượt dòng chưa được kiên cố hoàn chỉnh, đi lại hết sức khó khăn; Đường đô thị chủ yếu tận dụng các đường cũ, chưa được đầu tư phát triển. Đường giao thông nông thôn chủ yếu tập trung tại 1 số trung tâm huyện, xã có điều kiện địa hình thuận lợi như thị xã Lai Châu, huyện Tam Đường, Than Uyên. Các tuyến đường GTNT chủ yếu là đường đất, chỉ đi lại được vào mùa khô.

          Thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 và Chiến lược phát triển giao thông vận tải quốc gia đến năm 2020, ngay từ khi mới chia tách, tỉnh Lai Châu đã căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương và xác định việc xây dựng, nâng cấp hệ thống đường bộ là ưu tiên hàng đầu, tạo cơ sở để phát triển nhanh kinh tế của tỉnh và bảo đảm quốc phòng, an ninh; giao thông vận tải phải phát triển đồng bộ, tạo thành mạng lưới giao thông vận tải tương đối hoàn chỉnh, có tính liên kết cao, đảm bảo giao thông thông suốt, nhanh chóng, an toàn, thuận lợi. Quan điểm đó được chỉ đạo xuyên suốt qua 15 năm chia tách, được thể hiện qua Nghị quyết các kỳ Đại hội Đại biểu đảng bộ tỉnh lần thứ XI; XII; XIII và được cụ thể hóa qua các kế hoạch, chương trình trọng điểm, nhiệm vụ đột phá của tỉnh.

          Ngành GTVT đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh về chiến lược phát triển mạng lưới giao thông. Trước mắt khi mới chia tách, ưu tiên cho phát triển hạ tầng giao thông đô thị hiện đại ngay từ trong quy hoạch đô thị mới của tỉnh. Bên cạnh đó, căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tham mưu thực hiện công tác xây dựng quy hoạch phát triển GTVT tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó ưu tiên phát triển hệ thống giao thông đối ngoại, đặc biệt là đầu tư phát triển hệ thống quốc lộ, đảm bảo tính liên hoàn, liên kết với các tỉnh bạn như cải tạo, nâng cấp QL12, QL4D, QL32; tập trung đầu tư phát triển giao thông đến trung tâm các huyện, các khu vực sản xuất hàng hóa để khai thác tiềm năng thế mạnh của vùng, triển khai các công trình tái định cư phục vụ công tác di dân tái định cư các công trình thủy điện, đầu tư xây dựng hệ thống đường vành đai biên giới, đường tuần tra biên giới; trong công tác phát triển mạng lưới GTNT đã xây dựng kế hoạch cụ thể trong từng giai đoạn, trong đó đặt ra mục tiêu cần đạt được như số xã có đường ô tô đến trung tâm xã cứng hóa, tỷ lệ thôn bản có đường ô tô, xe máy đi lại được thuận lợi, từ đó xác định các nhiệm vụ cụ thể; đồng thời tiến hành khảo sát, xây dựng quy hoạch đường thủy nội địa, phục vụ cho phát triển kinh tế và đảm bảo quốc phòng, an ninh.

          Trong quá trình tổ chức thực hiện phát triển mạng lưới giao thông, tỉnh đã tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của Chính phủ, các bộ, ngành trung ương, huy động mọi nguồn lực và lồng ghép các nguồn vốn như vốn Trái phiếu Chính phủ, vốn Ngân sách Nhà nước, vốn vay Ngân hàng Châu á (ADB), Ngân hàng thế giới (WB), vốn vay hỗ trợ nước ngoài (ODA), các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (134); chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (135); chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững (30a); chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình tái định cư thủy điện Sơn La, Lai Châu, Huổi Quảng, Bản Chát, đồng thời đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật để đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Sau 15 năm tổ chức triển khai thực hiện, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh đã được tập trung đầu tư đã có những chuyển biến vượt bậc theo hướng tương đối đồng bộ, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, tính kết nối cao. Đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa thúc đẩy liên kết vùng, phát triển kinh tế và thế mạnh của vùng.

          Đến nay, hệ thống quốc lộ hiện có 07 tuyến với tổng chiều dài 515 km, tăng 02 tuyến với tổng chiều dài 196Km (QL4H, 279D). Các tuyến quốc lộ đã được đầu tư cải tạo, nâng cấp đạt tiêu chuẩn từ cấp IV, cấp V miền núi, mặt đường bê tông nhựa và láng nhựa, công trình thoát nước vĩnh cửu. Riêng các đoạn qua thành phố, thị trấn được đầu tư theo tiêu chuẩn đường đô thị, giao thông đi lại thuận lợi.

          Hệ thống đường tỉnh hiện có 10 tuyến với tổng chiều dài 496 km, tăng 06 tuyến với tổng chiều dài 280Km (ĐT: 129B, 130, 133, 134, 135, 136), quy mô đường từ cấp IV đến cấp VI miền núi, mặt đường láng nhựa, một số tuyến đường tỉnh đang được nâng cấp thảm bê tông nhựa như ĐT129 (Lai Châu – Sìn Hồ); ĐT132 (Phong Thổ - Dào San) và một số tuyến đang được cải tạo, nâng cấp như ĐT133 (Séo Lèng – Thân Thuộc). Các tuyến đường tỉnh đang phát huy khả năng khai thác tốt, giao thông đi lại thuận tiện.

          Đường đô thị có tổng chiều dài 169 km, tăng thêm 138Km, riêng thành phố Lai Châu là 83,13 km chiếm 55,7%. Hệ thống đường đô thị của thành phố Lai Châu và thị trấn của các huyện đã và đang được đầu tư xây dựng theo quy hoạch đô thị được duyệt, giao thông đô thị ngày càng khang trang, đáp ứng được tốc độ phát triển theo quy hoạch đô thị của tỉnh.

          Đường GTNT đã được đầu tư theo quy hoạch, góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội, xóa đói, giảm nghèo. Đến nay, toàn tỉnh có trên 5.304 Km đường GTNT tăng 2.932Km, có 96/96 xã đã có đường ô tô đến trung tâm, trong đó 95/96 xã đường ô tô đến trung tâm mặt đường được cứng hóa, đạt 99%, tăng 37%; có 1030/1.140 thôn, bản có đường xe máy đi được thuận lợi, đạt 90,35%, tăng 37,35%.

          Hệ thống đường tuần tra đã được đầu tư, đặc biệt là các tuyến đường ra các đồn biên phòng và các mốc biên giới. Hiện tại có tổng chiều dài 268,1 Km chủ yếu là đường cấp phối và đường đất, kết nối với các các tuyến hành lang biên giới và các tuyến đường huyện, đường xã phục vụ cho công tác tuần tra biên giới, tập trung ở 4 huyện Sìn Hồ, Phong Thổ, Nậm Nhùn và Mường Tè.

          Các tuyến đường thủy nội địa trên địa bàn tỉnh Lai Châu có tổng chiều dài 335 Km (bao gồm các tuyến đường thủy nội địa lòng hồ Sơn La, Huổi Quảng, Bản Chát). Trong đó có 02 tuyến: tuyến từ thủy điện Sơn La đến thủy điện Lai Châu dài 90 Km; tuyến từ thủy điện Lai Châu đến trung tâm huyện Mường Tè dài 91Km đã được công bố cấp kỹ thuật (cấp III). Hệ thống giao thông đường thủy nội địa trên địa bàn tỉnh bắt đầu phát triển, phá vỡ thế độc đạo của giao thông đường bộ, đa dạng hóa các loại hình giao thông.

          Hiện nay, hạ tầng giao thông đã tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ, khả năng kết nối cao, liên hoàn, tạo thành một mạng lưới giao thông thông suốt từ trung ương đến địa phương.

          Để tạo được động lực cho các ngành kinh tế khác phát triển, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bên cạnh những thành tựu đạt được, hạ tầng giao thông vận tải tỉnh vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Hạ tầng giao thông tuy đã được quan tâm đầu tư xong còn chưa đồng bộ, cấp đường còn thấp, nhiều tuyến vẫn còn chưa vào cấp, đặc biệt là hệ thống đường GTNT, số km đường đất, cấp phối còn chiếm tỷ trọng lớn, hiện vẫn còn 110 thôn, bản trên tổng số 1.140 thôn, bản đi lại khó khăn; tính kết nối giữa các hình thức vận tải còn kém, khả năng liên kết vùng tuy đã được nâng cao xong phạm vi còn hạn chế; Ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển hạ tầng giao thông còn chậm so với nhu cầu thực tiễn; công tác quy hoạch GTVT vẫn còn nhiều bất cập, chưa cân đối giữa quy hoạch và nguồn lực thực tế để thực hiện dẫn đến một số công trình có quy hoạch nhưng không có nguồn vốn thực hiện.

          Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế là do khi mới chia tách nền kinh tế địa phương có xuất phát điểm thấp, kinh tế mới đang trên đà phát triển, nguồn lực địa phương có hạn, đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách trung ương, việc xã hội hóa và huy động các nguồn lực khác còn nhiều khó khăn do sức hút của nền kinh tế còn thấp, chế độ chính sách về đầu tư xây dựng cơ bản có nhiều thay đổi, chưa tạo được một hành lang pháp lý an toàn và ổn định đối với các nhà đầu tư. Mặt khác, do đặc thù là một tỉnh miền núi, điều kiện địa hình hiểm trở, chia cắt, núi cao, dốc lớn, địa chất phức tạp, mùa mưa kéo dài, hay sạt lở làm ách tắc giao thông, gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý, khai thác và bảo trì các công trình đường bộ. Công tác giải phóng mặt bằng còn nhiều khó khăn, bất cập, đã làm ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện các dự án. Bên cạnh đó, thời gian đầu mới chia tách, nguồn lực cán bộ thiếu, chủ yếu là cán bộ trẻ, mới ra trường, ít kinh nghiệm. Qua thời gian, chất lượng đội ngũ cán bộ ngành GTVT từng bước được nâng lên, tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, chất lượng đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong lĩnh vực GTVT vẫn còn nhiều hạn chế. Đội ngũ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao thông trên địa bàn tỉnh chủ yếu là các doanh nghiệp mới thành lập, chưa có nhiều năng lực, kinh nghiệm, nhiều đơn vị thiếu thiết bị, máy móc, công nghệ thi công lạc hậu …, ảnh hưởng nhiều đến tiến độ và chất lượng thi công công trình.

           Từ những kết quả đã đạt được và những tồn tại, hạn chế đã chỉ ra, rút ra một số bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo đó là: phải có sự vào cuộc của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị và trong quá trình thực hiện; phải bám sát chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, căn cứ định hướng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh xây dựng quy hoạch chi tiết của ngành, phải đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, xây dựng tầm nhìn dài hạn và mục tiêu, nhiệm vụ cho từng giai đoạn, căn cứ vào khả năng huy động nguồn lực để xác định những công trình, dự án trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những công trình có tính kết nối vùng, liên vùng, có sức lan tỏa cao; huy động tất cả mọi nguồn lực (bao gồm nguồn lực lãnh đạo, chỉ đạo, vốn, nguồn lao động chất lượng cao, nhân lực, vật lực tại chỗ ...) và lồng ghép các nguồn vốn, đồng thời phải tạo hành lang pháp lý thuận lợi để thu hút mọi nguồn lực tham gia xây dựng hạ tầng giao thông; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, áp dụng các loại vật liệu, kỹ thuật mới trong đầu tư phát triển hạ tầng giao thông; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, chính quyền địa phương trong quản lý, phân công thực hiện nhiệm vụ, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đến mọi tầng lớp nhân dân để tạo sự đồng thuận, đồng lòng đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển hạ tầng giao thông.

          Trên cơ sở những thành quả đạt được và những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trong giai đoạn tới, ngành GTVT đề ra phương hướng và giải pháp thực hiện nhiệm vụ đột phá chiến lược phát triển hạ tầng giao thông tỉnh Lai Châu, đó là:

          Phương hướng: đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông, tạo thành mạng lưới giao thông tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ, hướng tới hiện đại, có tính kết nối cao từ trung ương đến tận thôn, bản và có một mạng lưới giao thông đô thị thông minh, trong đó: tập trung phát triển hệ thống giao thông đối ngoại để kết nối với các tỉnh và các trung tâm kinh tế lớn, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội như phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của Bộ GTVT triển khai xây dựng đường nối cao tốc Nội Bài – Lào Cai về thành phố Lai Châu, nâng cấp một số quốc lộ đạt tiêu chuẩn tối thiểu cấp IIImn, cấp IVmn, nâng cấp đoạn từ thành phố Lai Châu ra cửa khẩu Ma Lù Thàng (QL4D, QL12) đạt tiêu chuẩn đường cấp IIImn để tập trung phát triển kinh tế cửa khẩu, đầu tư hoàn thiện hệ thống đường vành đai biên giới đoạn Pa Tần – Mường Tè – Pắc Ma- Mường Nhé (QL4H), Phong Thổ - Bát Xát đạt tiêu chuẩn đường cấp IVmn, nghiên cứu để sớm đầu tư sân bay lưỡng dụng (dân dụng kết hợp quân sự, cứu hộ, cứu nạn) theo một trình tự và bước đi thích hợp. Phát triển hệ thống giao thông nội vùng, liên vùng, những tuyến có sức lan tỏa lớn để khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng, tăng khả năng kết nối và tiêu thụ sản phẩm (như cải tạo, nâng cấp ĐT133 (Séo Lèng – Thân Thuộc), ĐT128 (Chăn Nưa – Sìn Hồ), ĐT130 (San Thàng – Mường So) và một số tuyến khác đạt tiêu chuẩn đường cấp IVmn, Vmn). Quan tâm phát triển mạng lưới GTNT, đặc biệt là hệ thống đường đến trung tâm các huyện, các xã và các thông bản để đến năm 2025, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm mặt đường được cứng hóa, trên 98% thôn bản có đường ô tô, xe máy đi lại thuận lợi. Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị theo hướng ngày một hiện đại, thông minh, đáp ứng nhu cầu đa dạng về giao thông vận tải, đặc biệt là hệ thống giao thông công cộng đa phương thức. Xây dựng hệ thống giao thông đường thủy nội địa, tăng tính linh hoạt, thích ứng trong việc kết nối và vận chuyển hàng hóa qua các loại hình vận tải. Để đạt được những kết quả đó, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

           Thứ nhất: Thực hiện quy hoạch có tầm nhìn, có tính chiến lược, đồng thời tổ chức thực hiện tốt quy hoạch GTVT, có rà soát, điều chỉnh, bổ sung theo từng giai đoạn cho phù hợp với tình hình thực tế.

           Thứ hai: Huy động tối đa mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực về vốn, tranh thủ nguồn lực từ trung ương, từ các nhà đầu tư, từ các thành phần khác để đầu tư phát triển hạ tầng giao thông.

          Thứ ba: Tăng cường công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành và chính quyền địa phương trong việc phát triển hạ tầng giao thông.

          Thứ tư: Thực hiện quản lý chặt chẽ đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, lựa chọn ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải. Trong quá trình thực hiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đầu tư xây dựng, quan tâm, chú trọng công tác bảo trì các tuyến đường hiện có để đảm bảo hiệu quả khai thác sử dụng và tăng tuổi thọ công trình.

          Thứ năm: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đến người dân, tạo sự đồng thuận, ủng hộ đối với việc bảo vệ và phát triển hạ tầng giao thông.

          Với nhận thức sâu sắc rằng giao thông phải “đi trước một bước” để tạo động lực cho các ngành kinh tế khác phát triển,“Giao thông vận tải là mạch máu của tổ chức, Giao thông tốt thì các việc đều dễ dàng, Giao thông xấu thì các việc đình trệ”, một nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững trước hết phải có một hệ thống giao thông đồng bộ, hiện đại, thuận lợi, hiệu quả và an toàn. Ngành GTVT sẽ tích cực tham mưu cho tỉnh từng bước phát triển mạng lưới giao thông đạt được yêu cầu đó.

          Những gì đã làm được trong thời gian qua rất đáng trân trọng nhưng mới chỉ là bước đầu cho một hành trình còn rất gian nan. Đòi hỏi phải có sự vào cuộc của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị để hoàn thành nhiệm vụ rất quan trọng trong những năm sắp tới. Vì vậy sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, sự phối hợp giúp đỡ của các ngành, của cấp ủy chính quyền địa phương các cấp là nguồn động lực to lớn, là điểm tựa vững chắc để Sở GTVT tiếp tục phát triển, đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra trong thời gian tới.

Xin kính chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc. Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí !

./.

 

Tin liên quan

Sở Giao thông vận Tải Lai Châu: Hướng dẫn cài đặt ứng dụng và sử dụng ứng dụng Bluezone(06/08/2020 3:38:40 CH)

Lãnh đạo Sở Giao thông vận tải trực tiếp chỉ đạo khắc phục hậu quả thiên tai, Bảo đảm giao thông bước 1 trên tuyến ĐT.130.(06/07/2020 11:14:28 SA)

Đại hội Đảng bộ Sở Giao thông vận tải lần thứ IV nhiệm kỳ 2020 – 2025(02/06/2020 3:22:57 CH)

LỰC LƯỢNG THANH TRA GIAO THÔNG TỈNH LAI CHÂU GÓP PHẦN TÍCH CỰC TRONG PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH COVID-19 TRÊN ĐỊA BÀN(17/04/2020 10:28:21 SA)

Ngành Giao thông vận tải Lai Châu triển khai thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19(24/03/2020 2:35:12 CH)

430 Người đang Online

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LAI CHÂU - SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI

Địa chỉ: Tầng 6, nhà F, khu trung tâm Hành chính - Chính trị tỉnh Lai Châu

Điện thoại: 02313.876.597 Fax: 02313.876.717

Email: So.GTVT-laichau@chinhphu.vn

Ghi rõ nguồn www.sgtvt.laichau.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này.


...
Thiết kế bởi 0838.946.169